Giáo Dục

Nền Giáo Dục Đài Loan

Hệ thống giáo dục hiện tại ở Đài Loan bao gồm các thành tố: giáo dục cơ bản, giáo dục phổ thông, giáo dục nâng cao và giáo dục định hướng.

Giáo dục cơ bản gồm có mẫu giáo, các trường tiểu học và trung học công. Giáo dục phổ thông gồm có các trường dạy nghề và các trường cấp 3. Giáo dục nâng cao gồm có các trường đại học, cao đẳng và các trường đào tạo sau đại học. Giáo dục định hướng bao gồm các trường phục vụ cho mục đích giáo dục bổ túc. Thêm vào đó, giáo dục đặc biệt cũng được đưa ra dành cho những học sinh bị khuyết tật về thể chất và tâm lý ở tất cả các cấp độ của trường.

1. Quá trình học tập.

Cấu trúc giáo dục hiện tại chuẩn là 22 năm. Thời gian kết thúc linh hoạt, tuỳ thuộc vào nhu cầu của mỗi học sinh. Thông thường, toàn bộ quá trình đòi hỏi 2 năm mẫu giáo, 6 năm tiểu học, 3 năm cấp 2, 3 năm cấp 3 , 4-7 năm tại các trường cao đẳng hoặc đại học, 1-4 năm cho chương trình sau đại học, và 2-7 năm cho chương trình lấy bằng tiến sĩ.

2. Giáo dục bắt buộc đối với chương trình tiểu học và trung học.

Năm 1968 (SY 68), chương trình giáo dục bắt buộc đối với học sinh tiểu học và trung học ở Taiwan, Kinmen và Matsu được thi hành. Một chương trình thử nghiệm giáo dục bắt buộc 10 năm được đưa ra năm 1994 (SY 94) và được áp dụng trên toàn quốc năm 1996 (SY 96). Chương trình này được thiết kế nhằm lồng ghép các môn học ở trường cấp 2 với các trường dạy nghề. Những học sinh cấp 2 mà quan tâm đến chương trình đào tạo nghề thì có thể theo học một khoá học 2 năm khi vẫn đang còn ở năm cuối của trường cấp 2. Chương trình được thiết kế đặc biệt này được thêm vào những nhu cầu của học sinh và cho phép học sinh nhận được những khoá học nghề tương ứng mà học sinh cần, bởi vì những học sinh này sẽ không tiếp tục theo học văn hoá cao hơn.

3. Cấp 3 và giáo dục nghề.

Có hai dạng thể chế cho những học sinh trên cấp 2. Đó là cấp 3 và giáo dục nghề nâng cao, cả hai dạng chương trình này đều mất 3 năm để hoàn thành. Các trường giáo dục nghề nâng cao cung cấp những khoá học theo từng chuyên ngành ví dụ như nông nghiệp, công nghiệp, kinh doanh, nghiên cứu hải dương học, sản phẩm biển, y dược, điều dưỡng, kinh tế đối nội, kịch và nghệ thuật.

4. Cao đẳng.

Các trường cao đẳng được phân chia ra làm 2: cao đẳng 5 năm và cao đẳng 2 năm, mỗi một dạng đều có những yêu cầu về thủ tục đầu vào khác nhau. Cao đẳng 5 năm nhận những học sinh tốt nghiệp cấp 2 và đưa ra những khoá học kéo dài 5 năm. Cao đẳng 2 năm nhận những học sinh tốt nghiệp trường nghề nâng cao và đưa ra những khóa học kéo dài 2 năm.

5. Nghiệp vụ sư phạm và các chương trình đào tạo.

Tại Đài Loan, các chương trình đào tạo nghiệp vụ sư phạm được thực hiện ở các bậc đại học, thời gian học là 4 năm. Những chương trình này được chia làm 2 dạng sau: (1) chương trình đào tạo giáo viên cấp 2 và các cơ sở giáo dục; (2) chương trình đào tạo giáo viên cấp 1 và mẫu giáo. Ở dạng (1), công tác giảng dạy chủ yếu là bởi các giảng viên từ các trường đại học trong khi ở dạng (2), công tác giảng dạy hầu như là bởi các giáo viên từ các trường cao đẳng. Ngoài ra, ở các trường đại học còn có những khoa về sư phạm đào tạo những chương trình về nghiệp vụ sư phạm 6. Giáo dục đại học.

Các chương trình đại học yêu cầu thời gian học là 4 năm, tuy nhiên đối với những sinh viên không có khả năng hoàn thành tất cả những yêu cầu học trong khoảng thời gian qui định có thể sẽ được gia hạn thêm trong vòng 2 năm. Các chương trình đặc biệt sau đại học như bác sĩ nha khoa, y dược thì yêu cầu 6 đến 7 năm bao gồm một năm thực tập.

7. Giáo dục sau đại học.

Các chương trình sau đại học lấy bằng thạc sĩ và tiến sĩ yêu cầu 1-4 năm và 2-7 năm định sẵn. Đối với những sinh viên tham gia các khoá học sau đại học như là một phần của thực hành nghề có thể sẽ được gia hạn thêm về thời gian, nếu những sinh viên này chưa hoàn thành xong khoá học hoặc luận văn. Các trường hợp cụ thể sẽ phải tuân theo những qui định của từng trường đại học.

8. Giáo dục đặc biệt.
Chỉ những trường được chỉ định mới được phép nhận học sinh, sinh viên bị khuyết tật về thể chất và tâm lý. Giáo dục đặc biệt ở cấp mẫu giáo và tiểu học đòi hỏi ít nhất 6

năm, cấp 2 là 3 năm và ở cấp 3 và các trường đào tạo nghề nâng cao là 3 năm. Nếu không thì các lớp học đặc biệt sẽ chỉ được hoạt động như đối với giáo dục thông thường bao gồm cấp tiểu học, cấp 2 và cấp 3. Ở cấp đại học và cao đẳng có các lớp học dành cho người mù và điếc.

9. Giáo dục bổ túc.

Giáo dục bổ túc dành cho những công dân có một con đường lựa chọn để đạt đựơc những mục tiêu về học vấn của họ. Dựa vào môn học được đưa ra, nó sẽ phân loại thành 3 dạng chính, bao gồm giáo dục cơ bản, nghiên cứu nâng cao và giáo dục bổ túc ngắn hạn. Quá trình học tập đa dạng căn cứ bởi những môn học mà họ đưa ra.

Kỳ học: Một năm học (SY) để chỉ một quá trình là một năm từ mồng 1 tháng Tám của năm nay cho tới 31 tháng Bảy của năm sau. Ví dụ, năm học 2007-2008 sẽ bao gồm một khoảng thời gian từ 1/8/2007 đến 31/7/2008. Một năm học được chia ra làm hai học kỳ, học kỳ mùa xuân và học kỳ mùa thu. Giữa năm học là kỳ nghỉ hè và kỳ nghỉ đông trùng với dịp đón Tết âm lịch.

Nguồn: http://www.duhocdailoan.info/
Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.